Truy cập nội dung luôn

 

Nhiệt liệt chào mừng 49 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2024) và Quốc tế Lao động (01/5)!

Email  RSS  Sơ đồ cổng

HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG

Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1

ĐĂNG NHẬP QUẢN TRỊ ĐĂNG NHẬP QUẢN TRỊ

THỐNG KÊ THỐNG KÊ

  Đang truy cập : 2
  Hôm nay: 491
  Tổng lượt truy cập: 1626956

LỜI BAN BIÊN TẬP LỜI BAN BIÊN TẬP

Nâng cao chất lượng công tác chính trị tư tưởng ở Đảng bộ Khối Cơ quan - Doanh nghiệp tỉnh

Tăng cường công tác quản lý tư tưởng, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong công tác củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới. Nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tác chính trị tư tưởng, nửa nhiệm kỳ qua, Đảng bộ Khối Cơ quan - Doanh nghiệp tỉnh luôn quan tâm lãnh đạo triển khai thực hiện và đạt nhiều kết quả quan trọng.

xem thêm >>>

CHI TIẾT TIN

Chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
05/02/2024

 

CHUYÊN ĐỀ NĂM 2024
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH
HỒ CHÍ MINH VỀ TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC; XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, GÓP PHẦN THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XI VÀ NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ CÁC CẤP

-----

I. SỰ CẦN THIẾT CỦA CHUYÊN ĐỀ

1. Đoàn kết là một giá trị văn hoá truyền thống quý báu của dân tộc ta; là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển; là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam.

Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh, đoàn kết tạo nên sức mạnh vô địch, đưa nước ta, dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát huy truyền thống ấy, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh đổi mới, hội nhập hiện nay, khi đất nước đứng trước tình thế, hoàn cảnh gian lao, thử thách mang tính bước ngoặt, “nếu biết khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thì con thuyền cách mạng Việt Nam sẽ vượt qua mọi thác ghềnh, phong ba bão táp, để cập bến bờ vinh quang” [1].

Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc là chủ trương xuyên suốt, thống nhất của Đảng ta, được thể hiện trực tiếp trong nội dung nhiều văn kiện, nghị quyết, quyết định, chỉ thị qua các thời kỳ cách mạng. Đến nay, khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng được củng cố vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” [2].

2. Yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Để củng cố, tăng cường đoàn kết, thời gian qua, tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị được đổi mới, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; mô hình tổ chức của hệ thống chính trị dần hoàn thiện, từng bước khắc phục sự chồng chéo, bất hợp lý nhằm hoàn thiện thể chế, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tổ chức bộ máy; phương thức lãnh đạo, năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương được đổi mới. Công tác kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị được tăng cường theo phương thức “Lãnh đạo nội dung gì thì kiểm tra, giám sát nội dung đó”. Qua đó, đã kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên, làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị; củng cố, tăng cường và giữ vững niềm tin trong Nhân dân. Vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên được chú trọng.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, kiến tạo và phục vụ có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng ta khẳng định “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm dân là gốc” [3]; “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì Nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước” [4]; đồng thời nhấn mạnh mọi chính sách phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân và “lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu” [5]. Mặt khác, Nhà nước phải không ngừng “cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân” [6] và luôn vì mục tiêu “phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn” [7]. Thời gian qua, việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị theo Kết luận số 50-KL/TW, ngày 28/02/2023 và Kết luận số 62-KL/TW, ngày 02/10/2023 của Bộ Chính trị, Chương trình hành động số 28, 29-CTr/TU của Tỉnh ủy và Đề án số 02-ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy được tiếp tục thực hiện. Công tác quản lý, điều hành của chính quyền các cấp ngày càng hiệu quả; với phương châm “xây dựng chính quyền mạnh, trách nhiệm cao, sáng tạo, phục vụ Nhân dân, đồng hành với doanh nghiệp”, tỉnh đã triển khai quyết liệt các giải pháp cải cách, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó nhận được sự đồng thuận cao trong Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tạo sức bật cho phát triển.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Để củng cố, tăng cường lòng tin, sự gắn bó của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ, Đảng ta khẳng định tiếp tục đẩy mạnh “Đổi mới tổ chức, bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội theo phương châm hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và Nhân dân, làm cầu nối quan trọng giữa Đảng và Nhân dân” [8]. Đối với Bến Tre, những năm qua, các cấp ủy, chính quyền đã triển khai thực hiện hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, xác định rõ vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để Nhân dân làm chủ”. Qua thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào thi đua “Đồng Khởi mới”, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân đã được khẳng định.

3. Qua nửa nhiệm kỳ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, các cấp uỷ và hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở đã tập trung thực hiện rất quyết liệt, song vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, nhiều chỉ tiêu đạt thấp, một số nhiệm vụ chưa được tập trung triển khai thực hiện[1] và một số hạn chế đó là:

(1) Việc tổ chức học tập, quán triệt, phối hợp tuyên truyền Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI chưa thật sự đồng bộ. Tiến độ triển khai, cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết còn chậm. Vai trò nêu gương của một số đảng viên là người đứng đầu, cán bộ chủ chốt chưa rõ nét; tư tưởng tiến công, tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức ở ngành, địa phương chưa cao, thụ động, trông chờ chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên. Công tác quản lý, giáo dục đảng viên của chi bộ chưa thật sự chặt chẽ; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống có lúc thực hiện chưa liên tục; đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật còn cao...

(2) Công tác cải cách thủ tục hành chính trong Đảng còn chậm, khối Nhà nước gặp nhiều khó khăn, một số chỉ số cơ bản bị tụt hạng. Thí điểm mô hình tổ chức bộ máy chính quyền đô thị tại thành phố Bến Tre và chính quyền nông thôn tại huyện Thạnh Phú chưa được triển khai. Việc phát hiện, nhân rộng các mô hình, điển hình, nhất là trong thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về phát động phong trào thi đua “Đồng Khởi mới” giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030 chưa kịp thời, thiếu đồng bộ.

(3) Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) còn khoảng cách khá lớn so Nghị quyết; cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm; nhiều chỉ tiêu đạt dưới 50% so Nghị quyết. Chưa xây dựng được mô hình tổ chức lại sản xuất, dân cư gắn với quy hoạch đất đai; các liên kết chuỗi chưa thật sự bền vững. Thu hút đầu tư, nhất là các dự án có quy mô lớn còn hạn chế, vốn đầu tư giảm; kêu gọi đầu tư hạ tầng các KCN, CCN kết quả chưa như mong muốn. Công tác giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng KCN Phú Thuận chậm tiến độ. Việc triển khai các dự án điện gặp nhiều khó khăn. Thu ngân sách nửa nhiệm kỳ đạt thấp. Các dự án đô thị triển khai còn chậm. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn yếu tố gây bất ổn; việc giải quyết một số vụ án, vụ việc, tổ chức thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật còn chậm...

Những hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan, nhưng cơ bản là do năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu một số cấp ủy, tổ chức đảng, vai trò chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cấp cơ sở chưa được phát huy đúng mức. Đặc biệt là sự “Đồng thuận” của Nhân dân trong thực hiện các công trình, dự án, chủ trương của tỉnh chưa cao. Nhân dân chưa thật sự sẵn sàng tham gia hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước; phong trào thi đua “Đồng Khởi mới” hình thức, thiếu tính sáng tạo của quần chúng nhân dân, kết quả chưa thực chất, không bền vững...

Để hiện thực hoá khát vọng phồn vinh, “Phấn đấu xây dựng Bến Tre thành tỉnh phát triển khá của khu vực đồng bằng sông Cửu Long vào năm 2025 và của cả nước vào năm 2030”, việc quán triệt và thực hiện chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp là một trong những giải pháp quan trọng, thiết thực.

II. TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC; XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

1. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc

Với tinh thần nhân văn cao cả và nhãn quan chính trị sắc bén, suốt cả cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện một hệ thống quan điểm về đại đoàn kết dân tộc, tích cực truyền bá tư tưởng đoàn kết trong toàn Đảng, các cấp chính quyền và các tầng lớp nhân dân. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Bác có trên 400 bài nói và bài viết về đoàn kết. Tư tưởng về đoàn kết của Người được thể hiện nổi bật là: “Đoàn kết làm ra sức mạnh[2]” “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”[3]; “Đoàn kết là thắng lợi”[4]; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”[5]; “... một điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết”[6]; “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”[7].

1.1. Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược quyết định thành công của cách mạng Việt Nam

Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa đoàn kết và thành công. Phạm vi, quy mô, mức độ của thành công phụ thuộc vào quy mô và mức độ của khối đại đoàn kết. Có đoàn kết mới có thắng lợi. Kẻ thù càng lớn, khó khăn gian khổ càng nhiều, thì càng phải đoàn kết chặt chẽ, rộng rãi và vững chắc. Đoàn kết không chỉ tạo nên sức mạnh, mà còn quyết định thành bại, được mất và sự sống còn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù: “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”[8]; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”[9]... Để lý giải vì sao một nước Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu lại có thể đương đầu và đánh bại những thế lực có ưu thế tuyệt đối về vật chất, phương tiện chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ; chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước; chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”[10]. Theo Bác, đoàn kết trong Đảng là tiền đề để thực hiện đại đoàn kết dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc là cơ sở để đoàn kết quốc tế. Đó là đường lối chiến lược kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam; vì “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: “ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”[11] .

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ Nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo Nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Và mong muốn tột bậc của Người là “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[12].

1.2. Lực lượng và hình thức tổ chức đại đoàn kết dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”[13] đều là bộ phận hợp thành của đoàn kết toàn dân tộc. Khối đại đoàn kết dân tộc bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp, lực lượng, đảng phái, dân tộc, tôn giáo, cá nhân yêu nước, người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả những người đã lầm đường, lạc lối nhưng biết hối cải trở về với Nhân dân, thì đều trở thành lực lượng của đại đoàn kết dân tộc. Để đại đoàn kết dân tộc phát huy sức mạnh thật sự, cần bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích quốc gia dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng, nòng cốt là liên minh công - nông - trí thức do Đảng lãnh đạo; đồng thời chú trọng giải quyết hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo và dân cư ở các vùng miền khác nhau “Phát huy tương đồng, vượt qua khác biệt, hướng tới tương lai”. Mẫu số chung để đại đoàn kết dân tộc là: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh: “Toàn dân đoàn kết nhất trí thì chúng ta nhất định xây dựng được nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh”[14].

Hình thức tổ chức lực lượng đại đoàn kết dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất. Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Mặt trận dân tộc thống nhất được thành lập với những tên gọi phù hợp, như: Hội phản đế đồng minh (1930); Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (1936); Mặt trận dân chủ Đông Dương (1938); Việt Nam độc lập đồng minh hội gọi tắt là Việt Minh (1941); Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam gọi tắt là Hội Liên Việt (1946); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955); Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960); Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam (1968); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1977 đến nay). Mặt trận dân tộc thống nhất chỉ có thể bền vững khi được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí thức do Đảng lãnh đạo. Theo Người, để tập hợp lực lượng khối đại đoàn kết dân tộc, không được phép bỏ sót bất cứ thành phần giai cấp, xã hội nào, miễn là họ có lòng yêu nước, sẵn sàng cống hiến, phục vụ quốc gia dân tộc. Và “Công, nông, trí chúng ta đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta sẽ khắc phục được mọi khó khăn trở ngại... Chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” [15].

1.3. Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc

Trong bài Nói chuyện tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên - Việt toàn quốc, tháng 1/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số Nhân dân, mà đại đa số Nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”[16]. Vì vậy, khối đại đoàn kết dân tộc xây dựng dựa trên nguyên tắc lấy lập trường giai cấp công nhân để giải quyết hài hòa các mối quan hệ giai cấp - dân tộc.

Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc: Thứ nhất, tin vào dân, dựa vào dân vì lợi ích của dân để đoàn kết toàn dân, phát động các phong trào thi đua yêu nước trong lao động, học tập, sản xuất và chiến đấu; bởi vì “Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân”[17]. Thứ hai, đoàn kết lâu dài, rộng rãi, chặt chẽ, tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo. Nhân dân cần được vận động, giác ngộ, tự nguyện đứng trong Mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng lãnh đạo, để “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà”[18]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần nói “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ Nhân dân thì ta đoàn kết với họ”[19]. Thứ ba, đoàn kết trên cơ sở hiệp thương, dân chủ, chân thành, thẳng thắn, thân ái; đoàn kết gắn với đấu tranh, tự phê bình và phê bình. Vì “Đoàn kết thực sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân”[20]. Thứ tư, đoàn kết trên cơ sở kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc. Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người, trân trọng “phần thiện”, dù nhỏ nhất ở mỗi con người để tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng. Người viết: “Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang” [21].

1.4. Phương pháp phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

Thứ nhất, cần tuyên truyền, vận động Nhân dân. Nội dung tuyên truyền phải đáp ứng đúng nguyện vọng, quyền lợi của Nhân dân và yêu cầu của thực tiễn cách mạng. Tuyên truyền, vận động phải phù hợp với từng đối tượng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo. Trong kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Cương lĩnh tuyên truyền phải hết sức giản đơn, ai ai cũng hiểu được, nhớ được. Đoàn kết, đánh địch, cứu nước, chỉ 6 chữ ấy thôi là đủ rồi”[22]. Thứ hai, phải chăm lo xây dựng và xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đảng là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Đảng phải đề ra được đường lối đúng đắn. Trong Đảng phải đoàn kết, thống nhất từ tư tưởng đến hành động; có kỷ luật, tự giác, nghiêm minh; thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng. Mỗi đảng viên phải thật sự là người đày tớ thật trung thành của Nhân dân.

Về Nhà nước: Đảng phải làm cho Nhà nước thật sự là của dân, do dân, vì dân. Không ngừng cải cách bộ máy hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nước quản lý bằng pháp luật. “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là Nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của Nhân dân. Chính phủ chỉ có một mục đích là: Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”[23].

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là cầu nối gắn kết Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội phải có cương lĩnh, đường lối thiết thực, rõ ràng; hình thức tổ chức phong phú, phù hợp với từng giai cấp, tầng lớp, các ngành, các giới, các dân tộc, tôn giáo... để toàn dân tộc có thể tham gia xây dựng và thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

1.5. Đoàn kết là lẽ sống, đạo lý của Đảng, của dân tộc và là đức tính cơ bản của người cách mạng

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải coi đoàn kết là một đức tính cơ bản của người cách mạng. Ai không có khả năng tập hợp, đoàn kết quần chúng và các đồng chí của mình thì không thể làm cách mạng, không thể làm cán bộ. Người căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”[24]. Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: học tư tưởng, đạo đức đoàn kết Hồ Chí Minh là “Gột rửa tất cả cái gì có thể chia rẽ chúng ta, trau dồi tất cả cái gì thắt chặt chúng ta”[25]. Trước hết, cần trau dồi những phẩm chất đạo đức cần thiết cho đại đoàn kết dân tộc.

Về tư tưởng “Đoàn kết toàn dân tộc gắn với đoàn kết quốc tế”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quan sơn muôn dặm một nhà/Vì trong bốn biển đều là anh em”[26]. Người nói: “Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản”[27]. Sẵn sàng “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”[28]. Bởi vậy, cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta cần có tinh thần quốc tế trong sáng.

Đối với toàn Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”[29]. Để đoàn kết nhất trí, cán bộ lãnh đạo phải cần, kiệm, liêm, chính; kiên quyết chống quan liêu, tham ô, lãng phí; hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Chính phủ và pháp luật của Nhà nước.

Đối với mỗi đảng viên, Người cho rằng, muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên, “Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết”[30].

Đối với toàn thể Nhân dân Việt Nam, Người kêu gọi “tất cả dân ta đều Thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính” và giải thích “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác - Ái...”[31].

Song song với việc xây những đức tính tốt để đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, phải chống những cái xấu, những căn bệnh gây chia rẽ, mất đoàn kết.

Thứ nhất, phải chống bệnh hẹp hòi. “Bệnh này rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải. Trong, thì bệnh này ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết. Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, ... đều do bệnh hẹp hòi mà ra!”[32]. Từ hẹp hòi mà sinh ra kéo bè kéo cánh, bè phái. “Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết giữa đồng chí”[33] .

Thứ hai, phải chống chủ nghĩa cá nhân. Những người có tư tưởng này, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng, không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Do chủ nghĩa cá nhân mà cán bộ, đảng viên sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa; tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành; tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời thực tế, quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, chuyên quyền. Người chỉ rõ: “Do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của Nhân dân. Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”[34] .

Chỉ có thực hiện được chiến lược đại đoàn kết dân toàn dân tộc, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước mới thành công, Người khẳng định “ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó” và giải thích “Mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó”[35].

1.6. Phong Cách Hồ Chí Minh trong thực hiện đại đoàn kết dân tộc

Hồ Chí Minh suốt đời kiên tâm thực hiện đại đoàn kết. Người cũng chính là tấm gương của đại đoàn kết dân tộc. Theo Bác, để thực hiện đại đoàn kết dân tộc, thì toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên cần có phong cách lãnh đạo “Kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và Nhân dân”[36]. Họ phải là “Những người mà:

- Giàu sang không thể quyến rũ,

- Nghèo khó không thể chuyển lay,

- Uy lực không thể khuất phục”[37].

Người khẳng định, Đảng ta với phong cách vì dân, vì nước nên “Không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề, nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của Nhân dân” [38] để đại đoàn kết dân tộc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Bằng cách nào để toàn Đảng đoàn kết, nhất trí? Hồ Chí Minh chỉ ra biện pháp cơ bản là “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”[39].

Đối với cán bộ lãnh đạo, đảng viên, cần học và làm theo phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tập hợp, đoàn kết toàn dân. Chú ý tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng, chăm lo đời sống của Nhân dân. Tin vào dân, tôn trọng dân, chú ý lắng nghe và giải quyết những kiến nghị chính đáng của Nhân dân, sẵn sàng tiếp thu ý kiến dân phê bình và kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót. Giáo dục, lãnh đạo Nhân dân, đồng thời không ngừng học hỏi kinh nghiệm của Nhân dân. Biết biến quyết tâm của Đảng, Nhà nước thành quyết tâm của Nhân dân. “Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của Nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ”[40].

Đối với toàn thể Nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta ai cũng cần có phong cách thân ái, khoan hồng độ lượng, thương yêu lẫn nhau, mới đoàn kết được toàn dân tộc. “Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay”[41]. Tinh thần yêu nước, đoàn kết của các tầng lớp nhân dân cần được thể hiện trong các phong trào thi đua ái quốc. Mỗi giới lại cần có phong cách làm việc thiết thực của chính mình “Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc, các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn, đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp, đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh, nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự Nhân dân, bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng[42]. Như vậy thì kháng chiến, kiến quốc nhất định thành công.

Với đồng bào các tôn giáo, phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta không phân biệt lương, giáo, hãy làm theo gương của các bậc sáng lập Đạo mà đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng là để giữ gìn quyền tôn giáo tự do. Người khẳng định đạo đức tôn giáo có giá trị nhân văn, phù hợp với đạo đức của xã hội.

“Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái.

Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: đạo đức là nhân nghĩa”. Theo Người “Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ”[43].

Đối với đồng bào các dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “Các dân tộc đều bình đẳng và phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em”[44]. Ngày nay, chế độ ta là chế độ dân chủ. Đồng bào tất cả các dân tộc đều cần có phong cách làm việc của người chủ nước nhà.

2. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

2.1.1. Xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền trong sạch, vững mạnh làm hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị

- Nói về vai trò, nhiệm vụ của Đảng Cộng sản cầm quyền, Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mệnh trước hết “phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[45]. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam phù hợp với quy luật phát triển của xã hội. Đây là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin của Hồ Chí Minh trong quá trình chuẩn bị và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng lãnh đạo Nhân dân thông qua hệ thống chính quyền, Mặt trận dân tộc thống nhất và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhiệm vụ của Đảng “có thể đúc lại trong mấy chữ là làm cho nước Việt Nam ta: ĐỘC LẬP - THỐNG NHẤT - DÂN CHỦ - PHÚ CƯỜNG”[46].

- Về bản chất của Đảng Cộng sản cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu: Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ, có đầy đủ phẩm chất và năng lực lãnh đạo thực hiện những mục tiêu cách mạng. Đảng lãnh đạo Nhân dân giành được chính quyền, trở thành Đảng cầm quyền, nhưng là quyền do Nhân dân ủy nhiệm, Nhân dân mới thực sự là chủ. Đảng cầm quyền vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của Nhân dân. “Đảng phải thật sự là đội tiên phong dũng cảm và bộ tham mưu sáng suốt của giai cấp vô sản, của Nhân dân lao động và của cả dân tộc”[47].

- Về phương thức lãnh đạo, Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết, bằng công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát và bằng sự tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Xây dựng Đảng là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Để hoàn thành sứ mệnh của Đảng cầm quyền, cần tập trung xây dựng Đảng trên các mặt tư tưởng, chính trị, tổ chức và đạo đức. Trong đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một yêu cầu tất yếu, khách quan. Bởi xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn gắn với quá trình phát triển liên tục của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Trước diễn biến của điều kiện khách quan, bản thân Đảng phải tự chỉnh đốn, tự đổi mới để vươn lên làm tròn trọng trách trước giai cấp và dân tộc.

Với chủ trương trước hết phải xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng sống trong xã hội, là một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội. Tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên ở các cấp, giữ các chức vụ đều chịu ảnh hưởng, tác động của môi trường, các quan hệ xã hội, cả cái tốt và cái xấu, tích cực và tiêu cực, tiến bộ và lạc hậu. Do đó, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện. Đảng phải thường xuyên chú ý đến việc chỉnh đốn Đảng. Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, theo tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nhu cầu tự hoàn thiện, tự làm trong sạch nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên.

Công tác xây dựng Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh gồm: Xây dựng Đảng về chính trị; xây dựng Đảng về tư tưởng; xây dựng Đảng về tổ chức; xây dựng Đảng về đạo đức.

(1) Xây dựng Đảng về chính trị và xây dựng Đảng về tư tưởng: Phải dựa vào lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin để xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị và tư tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý: Việc học tập, nghiên cứu, tuyên truyền và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin phải luôn phù hợp với từng đối tượng, từng hoàn cảnh. Đảng phải tăng cường đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề đặt ra trong quá trình lãnh đạo. Việc thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng sẽ làm sáng tỏ những vấn đề mới trong thực tiễn, làm cho đường lối của Đảng ngày càng hoàn thiện.

Nội dung xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng bao gồm: Đường lối chính trị, bảo vệ chính trị, xây dựng và thực hiện nghị quyết, xây dựng và phát triển hệ tư tưởng chính trị, củng cố lập trường chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị... Trong đó, đường lối chính trị là vấn đề cốt tử trong sự tồn tại và phát triển của Đảng. Đảng cần phải thường xuyên giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, thông tin thời sự cho cán bộ, đảng viên để họ luôn luôn kiên định lập trường, giữ vững bản lĩnh chính trị trong mọi hoàn cảnh.

(2) Xây dựng Đảng về tổ chức: Về hệ thống tổ chức đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ tổ chức. Hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở phải thật chặt chẽ, có tính kỷ luật cao. Sức mạnh các tổ chức liên quan chặt chẽ với nhau; mỗi cấp độ tổ chức có chức năng, nhiệm vụ riêng. Trong hệ thống đó, chi bộ đóng vai trò là hạt nhân, quyết định chất lượng lãnh đạo của Đảng; là môi trường tu dưỡng, rèn luyện và giám sát đảng viên; có vai trò quan trọng trong việc gắn kết giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Về công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài. Người nhận thức rõ vị trí, vai trò của người cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp cách mạng. “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”[48].

Theo Người, “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”[49]. Vì vậy, Người yêu cầu “Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gũi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không. Lại phải xem người ấy có xứng với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc. Nếu cất nhắc không cẩn thận, không khỏi đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo. Như thế rất có hại”[50].

(3) Xây dựng Đảng về đạo đức: Đảng là đạo đức, là văn minh, nhờ đó Đảng mới trong sạch, vững mạnh. Trong 12 điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Đảng là một tổ chức cách mạng chứ không phải tổ chức để “làm quan phát tài”. Không như vậy, Đảng sẽ rơi vào thoái hóa, biến dạng, tha hóa, xa dân, tự đánh mất sức mạnh tự bảo vệ. Xây dựng Đảng về đạo đức là cơ hội để mỗi cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, giáo dục và tu dưỡng tốt hơn, hoàn thành các nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao phó, đặc biệt là giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng. Đưa ra tiêu chí của một người cán bộ tốt là phải vừa có đức, vừa có tài, Người nhấn mạnh “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được Nhân dân”[51]. Do vậy, để xây dựng Đảng thực sự đạo đức, văn minh, cần nắm rõ 3 nguyên tắc:

Một là, những chuẩn mực đạo đức cần có của tổ chức Đảng: Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin một cách sáng tạo, chống giáo điều và xa rời nguyên tắc. Trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân, dân tộc Việt Nam và của loài người. Đảng gắn bó với dân, là người lãnh đạo đồng thời là người đày tớ trung thành của Nhân dân.

Hai là, những phẩm chất đạo đức cách mạng cần có của cán bộ, đảng viên: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêu thương, quý trọng con người; có tinh thần quốc tế trong sáng.

Ba là, những nguyên tắc, biện pháp xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng: Nói đi đôi với làm, nêu gương đạo đức; tu dưỡng đạo đức suốt đời; xây dựng đạo đức đi đôi với chống lại những hiện tượng phi đạo đức.

Như vậy hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam quy định 5 nguyên tắc tổ chức hoạt động cơ bản, đó là: tập trung dân chủ trong Đảng; tự phê bình và phê bình; đoàn kết thống nhất; gắn bó mật thiết với Nhân dân; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, trong đó:

- Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản trong xây dựng Đảng, thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa “tập trung” và “dân chủ”. Hồ Chí Minh khẳng định: Tập trung trên nền tảng dân chủ và dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung, là cơ sở của tập trung. Nếu không có sự gắn bó và thống nhất với nhau thì sẽ dẫn tới độc đoán, chuyên quyền và tự do vô tổ chức, vô kỷ luật.

- Nguyên tắc tự phê bình và phê bình là nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, là quy luật phát triển của Đảng. Đảng từ trong xã hội mà ra nên có những căn bệnh trong xã hội lây ngấm. Cán bộ, đảng viên cũng là con người, cũng có cái tốt, xấu, thiện, ác trong lòng. Vì vậy, tự phê bình và phê bình giống như việc rửa mặt hàng ngày, làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở, phần xấu mất dần đi. Tự phê bình và phê bình là thuốc đắng nhưng giã tật. Nếu không tự phê bình và phê bình sẽ như người có bệnh mà không uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” [52].

Tự phê bình và phê bình nhằm làm cho Đảng vững mạnh, cán bộ, đảng viên tiến bộ. Đó cũng là một trong những cách tốt nhất để thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, giữ vững và củng cố uy tín của Đảng. Trong phê bình và tự phê bình, phải thật thà, thẳng thắn, không nể nang, giấu giếm, không thêm bớt khuyết điểm. Cán bộ chủ chốt, lãnh đạo càng phải gương mẫu tự phê bình, phê bình. Tuyệt đối chống các biểu hiện như: Thiếu trung thực, che giấu khuyết điểm của bản thân, sợ phê bình, không dám phê bình, nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý”, hoặc lợi dụng phê bình để nói xấu, bôi nhọ, vùi dập, đả kích người khác.

- Nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đoàn kết thống nhất phải dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, đường lối, quan điểm của Đảng, nghị quyết của tổ chức đảng các cấp. Bác căn dặn “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”[53]. Có đoàn kết tốt thì mới tạo ra cơ sở vững chắc để thống nhất ý chí và hành động, làm cho “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”[54]. Vì vậy, muốn đoàn kết thống nhất, phải thực hành dân chủ rộng rãi ở trong Đảng, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân và các biểu hiện tiêu cực khác.

2.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

Nhà nước của dân là tất cả mọi quyền lực nhà nước và trong xã hội đều thuộc về Nhân dân. Nhân dân lao động làm chủ nhà nước tất yếu có quyền kiểm soát nhà nước. Cử tri bầu ra các đại biểu, ủy quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề quốc kế dân sinh.

Nhà nước do dân là nhà nước do dân tạo ra và Nhân dân tham gia quản lý. Hồ Chí Minh khẳng định: Việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có trách nhiệm “ghé vai gánh vác một phần”.

Nhà nước vì dân là nhà nước lấy lợi ích chính đáng của Nhân dân làm mục tiêu. Tất cả đều vì lợi ích của Nhân dân; ngoài ra, không có bất cứ một lợi ích nào khác. Một nhà nước vì dân là từ Chủ tịch nước đến công chức bình thường đều phải làm công bộc, làm đày tớ cho Nhân dân. Mọi công chức, từ nhân viên đến Chủ tịch nước đều do dân ủy thác cho và phải phục vụ Nhân dân.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước Việt Nam thể hiện ở các đặc điểm sau: (1) Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo. (2) Nhà nước bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển đất nước. (3) Nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản là tập trung dân chủ.

Xây dựng Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ: Hoạt động quản lý nhà nước phải bằng Hiến pháp, pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào cuộc sống. Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước dân chủ Việt Nam không thể thiếu pháp luật, vì pháp luật là “bà đỡ” cho dân chủ. Dân chủ đích thực bao giờ cũng đi liền với kỷ cương, phép nước. Mọi quyền dân chủ của người dân phải được thể chế hóa bằng Hiến pháp và pháp luật; ngược lại, hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ của người dân được tôn trọng trong thực tế.

Người cũng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa bảo đảm việc thực thi quyền lực của Nhân dân, trong đó, khẳng định vai trò của pháp luật là “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”[55]. Người thường chỉ rõ những tiêu cực và nhắc nhở mọi người đề phòng, khắc phục những tệ nạn trong bộ máy nhà nước: Đặc quyền, đặc lợi; tham ô, lãng phí, quan liêu; tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo... Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, liêm chính, đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, cán bộ chủ chốt các ngành, các cấp. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức, đủ tài bao gồm những yêu cầu sau: (1) Tuyệt đối trung thành với cách mạng. (2) Hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ. (3) Phải có mối liên hệ mật thiết với Nhân dân. (4) Cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là trong những tình huống khó khăn, “thắng không kiêu, bại không nản”. Phải thường xuyên tự phê bình và phê bình, luôn luôn có ý thức và hành động vì sự lớn mạnh, trong sạch của Nhà nước.

2.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Mặt trận dân tộc và các tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh để bảo đảm dân chủ trong xã hội

Đối với xây dựng Mặt trận dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định Mặt trận dân tộc có vai trò rất quan trọng trong xây dựng và phát huy đại đoàn kết dân tộc. Người nói “Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam”[56]. Mặt trận dân tộc thống nhất tập hợp, đoàn kết rộng rãi tất cả những người Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, tầng lớp xã hội, đảng phái, xu hướng chính trị, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo..., với nòng cốt chính trị là liên minh công - nông - trí thức do Đảng lãnh đạo, vì mục tiêu chung của sự phát triển đất nước, xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi khác của Nhân dân. Bởi “Mục đích phấn đấu của Mặt trận dân tộc thống nhất là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”[57]. Mặt trận dân tộc thống nhất là cơ sở chính trị - xã hội của Đảng, Nhà nước ta. Cho nên, phải hết sức chú trọng xây dựng và phát huy vai trò là liên minh chính trị tự nguyện của tất cả các tổ chức chính trị - xã hội của Mặt trận dân tộc.

Đối với các đoàn thể chính trị - xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định:

“- Đoàn Thanh niên Lao động phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức và giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sỹ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

- Công đoàn phải thật sự trở thành trường học quản lý nhà nước, quản lý kinh tế và văn hóa của giai cấp công nhân nước ta.

- Hội Liên hiệp Phụ nữ phải là lực lượng mạnh mẽ giúp Đảng động viên, tổ chức và lãnh đạo phụ nữ tiến lên chủ nghĩa xã hội”[58].

- Hội Nông dân có nhiệm vụ: “Làm cho nông dân hiểu rõ quyền lợi của dân tộc và của giới mình, làm cho nông dân vào Hội nông dân cứu quốc cho đông để phấn đấu cho mục đích của mình và tích cực tham gia công cuộc kháng chiến kiến quốc”[59].

2.2. Đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

2.2.1. Đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng

Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực, suốt một đời phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, quan tâm rèn luyện, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Trong quá trình chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng, Người không chỉ quan tâm đến việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, mà còn rất quan tâm giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ nòng cốt của Đảng về đạo đức, tư cách người cách mạng. Từ năm 1927, trong 23 điểm nêu trong cuốn Đường Cách mạng, Hồ Chí Minh đã chỉ ra nhiều phẩm chất đạo đức cần có đối với người cách mạng, như: Cần kiệm; Hòa mà không tư; Cả quyết sửa lỗi mình; Cẩn thận mà không nhút nhát; Nhẫn nại (chịu khó); Vị công vong tư; Không hiếu danh, không kiêu ngạo; Nói thì phải làm; Hy sinh; Ít lòng tham muốn về vật chất; Khoan thứ; Có lòng bày vẽ cho người; Trực mà không táo bạo; Quyết đoán; Dũng cảm...

Xác định đúng đắn đường lối chiến lược giải phóng dân tộc để Đảng hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo Nhân dân đấu tranh lật đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, trong giai đoạn 1930-1945, Người đã kiên định thực hiện đường lối chiến lược đó, mang lại thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại nền độc lập cho dân tộc. Sau khi thành lập chính quyền dân chủ nhân dân, với cương vị người đứng đầu, Người cùng với Đảng chèo lái con thuyền cách mạng trong điều kiện cực kỳ khó khăn, phức tạp những năm 1945-1946, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng.  

Với đường lối “kháng chiến, kiến quốc”, “thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược”, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lãnh đạo Nhân dân giành thắng lợi vẻ vang, đánh đổ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước. Trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ đó, có lúc Đảng gặp sai lầm, Hồ Chí Minh đã nhận trách nhiệm trước Đảng, trước dân. Người đặt mình trong tập thể, nguyện trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng “cả khi phải ẩn nấp nơi núi non, ra vào nơi tù tội không bao giờ xa rời mục tiêu đó”, “nguyện đi cùng với đồng bào, dù phải hy sinh tính mạng cũng không nề”.

Tấm gương mẫu mực của Người về phẩm chất, tư cách, suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng được thể hiện nổi bật ở các điểm sau:

Một là, tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Là người thành lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gương mẫu, trung thực, trách nhiệm, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, coi kỷ luật Đảng là kỷ luật nghiêm minh và tự giác, quan tâm đến việc thực hành dân chủ trong Đảng. Người xác định rõ trách nhiệm cá nhân, nêu cao tinh thần “phụ trách” trước Đảng, trước dân tộc và Nhân dân.

Hai là, tấm gương luôn tự rèn luyện, trau dồi phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống, tác phong của một đảng viên. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giữ vững, rèn luyện ý chí, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”60; trách nhiệm trung thành với Đảng, Nhà nước, hiếu với Nhân dân. Khổ luyện, tiếp thu các giá trị văn hóa, tự hoàn thiện nhân cách, không ngừng học tập để nâng cao tầm trí tuệ, Hồ Chí Minh đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Rèn luyện, giữ vững đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tấm lòng nhân ái, thủy chung, son sắt; lối sống giản dị, tinh tế, hòa đồng, làm chủ bản thân và luôn hướng tới những chuẩn mực của chân, thiện, mỹ. Rèn luyện để có tác phong gần dân, hiểu dân, vì dân; gương mẫu trong cuộc sống hàng ngày. Chăm lo xây dựng Đảng ta thành một Đảng đạo đức, văn minh với những chuẩn mực được xây dựng từ mỗi tổ chức đảng cho đến từng cán bộ, đảng viên.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố quyết định hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là Đảng cầm quyền phải trong sạch, vững mạnh. “Đảng không phải chỉ đại biểu lợi ích của đảng viên, mà đại biểu lợi ích của toàn giai cấp công nhân, toàn thể dân tộc và loài người”[60]. Đảng phải kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác-Lênin. Cán bộ, đảng viên phải học tập lý luận Mác-Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm tốt nhiệm vụ mà Đảng giao cho mình. Người căn dặn, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, “Đảng ta là một đảng cầm quyền... Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”[61]. Người cũng nêu rõ, chuẩn mực đạo đức đầu tiên cần có của cán bộ, đảng viên là trung với Đảng, với Nước, hiếu với Dân. “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất... Đặt lợi ích của Đảng và của Nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân”[62]. Điểm cốt lõi trong đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. “Quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí”[63].

Cán bộ, đảng viên cũng cần có phẩm chất yêu thương, quý trọng con người, phát huy truyền thống yêu nước thương nòi của dân tộc, sống có tình có nghĩa, “tối lửa tắt đèn có nhau”. Hồ Chí Minh khẳng định: “Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa”[64]. Để các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện được các phẩm chất đạo đức cách mạng nói trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh định ra 3 nguyên tắc:

Một là, xây đi đôi với chống. Xây cái tốt, nâng cao đạo đức cách mạng. Chống cái xấu, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. “Xây tốt thì chống mới tốt. Chống tốt thì xây mới tốt”[65].

Hai là, nói đi đôi với làm, gương mẫu đạo đức. Từ mỗi tổ chức đảng cho đến mỗi cán bộ, đảng viên đều cần đã nói thì phải làm. “Nói cái gì phải cho tin - nói và làm cho nhất trí”[66].

Ba là, tu dưỡng đạo đức hàng ngày, suốt đời. “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”[67].

2.2.2. Đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng hệ thống chính trị  

Kết hợp đạo đức với pháp luật xây dựng bộ máy nhà nước liêm chính phụng sự Tổ quốc và phục vụ Nhân dân: Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cách mạng đã xóa bỏ kiểu chính phủ cai trị dân của đế quốc, phong kiến. Nay Đảng phải xây dựng chính phủ kiểu mới hoạt động theo pháp luật và trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức cách mạng. “Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”[68].

Chính phủ phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân thì phải liêm chính, biết làm việc. Được Quốc hội giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố “Tuy trong quyết định không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết. Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà”[69].  

Để xây dựng Chính phủ liêm chính, hành động có hiệu quả, Người nêu rõ: “Cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân. “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không liêm, cũng phải hóa ra LIÊM. Vì vậy, dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM. Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”[70].

Nhà nước cần biết cách làm cho người dân thực sự có quyền lực, mở rộng dân chủ để dân tham gia hoạch định chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, Hiến pháp nước ta cần có nội dung: “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của Nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước”[71].

Để bộ máy nhà nước trong sạch, thật sự phục vụ Nhân dân, mỗi công dân cần phải kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí và nâng cao cảnh giác đề phòng địch phá hoại. “Các cơ quan phụ trách cần phải nghiêm khắc ngăn ngừa tham ô, lãng phí và kịp thời thi hành kỷ luật đối với những kẻ ngoan cố không chịu sửa đổi”[72].

2.2.3. Đạo đức Hồ Chí Minh về Mặt trận dân tộc thống nhất và các tổ chức chính trị - xã hội  

Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ định hướng phấn đấu của các cán bộ, đảng viên, đoàn viên trong Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội, đó là: Cán bộ, đảng viên của Mặt trận phải thông suốt và thực hiện đúng chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời phải giải thích cho mọi người hiểu thật thấu và làm cho đúng. Phải đi đường lối nhân dân, không được quan liêu, mệnh lệnh và gò ép nhân dân.

Công đoàn phải giáo dục cho công nhân về đạo đức vô sản, đạo đức cách mạng... công nhân phải hiểu mình là chủ xí nghiệp, chủ nước nhà, hiểu lao động là vẻ vang, phải giữ gìn của công, chống tham ô lãng phí, phải bảo vệ kỷ luật lao động, phải thi đua làm tốt, nhiều, mau, rẻ. Cải thiện sinh hoạt phải dựa trên cơ sở tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm”[73].

Hội Nông dân thì phải tổ chức nông dân thật chặt chẽ. Đoàn kết nông dân thật khăng khít. Huấn luyện nông dân thật giác ngộ. “Lãnh đạo nông dân hăng hái đấu tranh cho lợi ích của nông dân, của Tổ quốc”[74].

Đoàn Thanh niên cần làm đầu tàu, làm gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước. Phải thực hiện khẩu hiệu “Đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó thì thanh niên làm”[75]. “Nhiệm vụ của thanh niên là ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội”[76]. “Đoàn Thanh niên Lao động cần phải phụ trách: Việc tổ chức và giáo dục cho tốt các cháu nhi đồng, chuẩn bị cho các cháu ấy mai sau trở nên những đoàn viên tốt. Việc đẩy mạnh phong trào đời sống mới một cách thiết thực và liên tục, từ việc nhỏ đến việc to”[77].

Hội Phụ nữ thực hiện các nhiệm vụ là: (1) Thắt chặt mối đoàn kết giữa các tầng lớp phụ nữ trong nước, giữa phụ nữ Việt Nam và phụ nữ các nước bạn cùng phụ nữ dân chủ thế giới. (2) Thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. (3) Hăng hái tham gia chính quyền. (4) Giúp đỡ bộ đội. (5) Bảo vệ nhi đồng[78].

2.3. Phong cách Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Để phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ, quần chúng và phong cách lãnh đạo nêu gương cho cán bộ, đảng viên.

Về phong cách lãnh đạo dân chủ, quần chúng, Người chỉ rõ: “Chúng ta cần phải nâng cao mở rộng dân chủ ra, khuyên gắng cán bộ và đảng viên, bày cho họ suy nghĩ, bày cho họ học hỏi quần chúng, cổ động họ tìm tòi, đề nghị, làm những việc ích lợi cho quần chúng. Khi họ đã có ít nhiều sáng kiến, thì giúp đỡ họ phát triển, khen ngợi cho họ thêm hăng hái”[79]. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái” ba điều này có mối quan hệ gắn bó với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Cán bộ lãnh đạo không nên tự tôn, tự đại, mà phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới và Nhân dân. Phong cách lãnh đạo dân chủ, quần chúng là khiến cho cấp dưới và Nhân dân cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc. Toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên muốn đoàn kết, phục vụ Nhân dân phải gần dân, được lòng dân, nghe theo dân. Lãnh đạo là dìu dắt nhân dân. Xa nhân dân thì không đoàn kết, lãnh đạo được Nhân dân.

Về phong cách lãnh đạo nêu gương cho cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là một phong cách lãnh đạo nhân văn và hiệu quả. Là tấm gương sáng nhất, Người chỉ dẫn: Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. “Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo. Mà muốn cho quần chúng nghe theo lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ”[80].

Để làm cho bộ máy Nhà nước Việt Nam thật sự phục vụ Nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng phong cách tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và phong cách ứng xử chân thành cho cán bộ, đảng viên.

Về phong cách tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đây là phong cách lãnh đạo cơ bản nhất của chính quyền dân chủ. Việc xây dựng phong cách này nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng. Mỗi cá nhân, tập thể đều phải nêu cao nguyên tắc, xây dựng phong cách tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, mọi việc đều đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên, có như vậy mới phát huy được khối đại đoàn kết dân tộc.

Về phong cách ứng xử chân thành cho cán bộ, đảng viên, đây là phong cách để phát huy tinh thần đoàn kết, cán bộ, công chức nhà nước. Theo đó, mỗi cá nhân cần phải học và làm theo phong cách ứng xử Hồ Chí Minh: Khiêm tốn, nhã nhặn, tôn trọng Nhân dân. Chân tình, nồng hậu, tự nhiên với Nhân dân như trong một đại gia đình. Xóa đi bức tường ngăn cách giữa cán bộ lãnh đạo với Nhân dân. Từ đó, mới đoàn kết được toàn Đảng, toàn dân. Toàn bộ hệ thống chính trị: Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận, đoàn thể làm công tác tham mưu, thực hiện dân vận khéo, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và Nhân dân, thực hiện đại đoàn kết dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ. Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, công tác dân vận bao gồm những nội dung sau:

Thứ nhất, là phải tìm mọi cách giải thích cho người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được.

Thứ hai, là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành. Trong lúc thi hành phải theo dõi, đôn đốc, khuyến khích dân. Thi hành xong, phải cùng dân kiểm tra lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng. Cán bộ chính quyền, đoàn thể địa phương phải cùng nhau bàn tính kỹ càng, phân chia công việc rõ rệt, giải thích cho dân hiểu, cổ động dân, giúp dân lên kế hoạch tổ chức, sắp xếp việc làm, theo dõi, giúp đỡ dân giải quyết những khó khăn, vướng mắc. Hội viên của các đoàn thể phải xung phong thi đua, làm mẫu cho dân, giúp dân làm theo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, phong cách dân vận khéo có vai trò quyết định thành công trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người nhấn mạnh: “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc... Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”[81].

Để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, quần chúng nhân dân đóng vai trò quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Xây dựng về tư tưởng, về chính trị, về tổ chức, đó là đường lối xây dựng Đảng. Đó không những là công việc của Đảng và của đảng viên mà cũng là của toàn dân ta. Nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình trong Nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê bình và nêu ý kiến của mình. Đảng viên thì phải dựa vào Nhân dân mà xây dựng Đảng”[82].

Thực tế, ở nơi nào niềm tin của người dân vào cấp ủy, chính quyền mạnh mẽ thì ở đó vai trò, trách nhiệm của quần chúng nhân dân trong xây dựng Đảng được phát huy cao độ. Vì vậy, cần đặc biệt chú trọng vai trò, trách nhiệm của quần chúng nhân dân tham gia xây dựng Đảng thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Thực hiện hiệu quả quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền theo Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị khóa XI, Quy định số 124-QĐ/TW, ngày 02/02/2018 của Ban Bí thư khóa XII về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ đảng viên.

3. Bài học lịch sử của cách mạng Việt Nam về đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh do Đảng lãnh đạo

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã chủ trương đoàn kết mọi lực lượng thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Bản Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã vạch ra sự cần thiết phải xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất nhằm đoàn kết các giai tầng, khơi dậy lòng yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc. Thành quả 94 năm qua của cách mạng Việt Nam đã khẳng định phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc do Đảng lãnh đạo là nguyên tắc căn bản trong đường lối chiến lược về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng. Sự đoàn kết, đồng lòng của cả dân tộc chính là nguồn lực quan trọng đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách khắc nghiệt, để giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử.

Trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập hiện nay, Đảng ta tiếp tục nêu cao chiến lược đại đoàn kết dân tộc trong một mặt trận thống nhất Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng đã tổng kết 5 bài học lớn của cách mạng Việt Nam, trong đó có bài học: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế”[83]. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta xác định: “Trong những năm tới, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đoàn kết một lòng; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy; có quyết tâm chính trị cao; dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình; chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống; nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được; đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”. Quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và hành động nhất quán về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là một nhiệm vụ thường xuyên và là bài học có tính quy luật, là đường lối chiến lược, là nguồn lực to lớn quyết định sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Nhưng để phát huy sức mạnh của quần chúng, cần phải có một chính Đảng giác ngộ, tổ chức rèn luyện và lãnh đạo. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Cho nên phải xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh “Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo”[84]. Bài học về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là bài học không bao giờ là cũ, là nguyên tắc bảo đảm cho sự tồn vong, phát triển của Đảng và chế độ. Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chính là để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong hệ thống chính trị và đồng thuận toàn xã hội, để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”.

Từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh thời gian qua, chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh phải trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Quán triệt và thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ “Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

Thứ hai, sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời Nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.

Thứ ba, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công.

Thứ bốn, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại.

Thứ năm, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: Sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên.

III. ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC; XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, GÓP PHẦN THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XI VÀ NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ CÁC CẤP

1. Tình hình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thời gian qua

1.1. Về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

Quán triệt và thực hiện nghiêm các chủ trương, nghị quyết của Đảng về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân, về đại đoàn kết dân tộc, về Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội, quyền làm chủ của Nhân dân tỉnh nhà từng bước được phát huy trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh. Việc tập hợp, vận động Nhân dân tích cực tham gia hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, thi đua “Đồng Khởi mới” với các hình thức đa dạng và có bước phát triển mới. Kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển, tỷ lệ hộ nghèo giảm, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng lên, công tác an sinh xã hội được tăng cường, động viên mọi người vươn lên làm giàu chính đáng; giải quyết khá tốt các vấn đề xã hội, không để xảy ra điểm nóng; thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội. Chú trọng xây dựng, phát triển văn hóa, con người Bến Tre đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, hội nhập.

Việc thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đạt được kết quả tích cực. Chính quyền các cấp thực hiện tốt quy định về những nội dung công khai để Nhân dân biết, tạo được sự đồng thuận cao trong quá trình triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Đối với những nội dung Nhân dân bàn, quyết định trực tiếp và tham gia ý kiến trước khi cấp có thẩm quyền quyết định được các cấp uỷ, chính quyền quan tâm thực hiện khá hiệu quả. Đối với nội dung Nhân dân kiểm tra, giám sát, ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng thực hiện khá tốt vai trò giám sát, nhất là đối với các đề án, dự án, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện các chế độ, chính sách, vận động Nhân dân đóng góp xây dựng các loại quỹ ở cơ sở, xây dựng nhà đại đoàn kết, xây dựng các dự án, công trình phúc lợi,... Kịp thời phát hiện, kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền xử lý vi phạm, phòng ngừa tiêu cực; giải quyết những vướng mắc, bức xúc của Nhân dân; góp phần xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên được mở rộng, giữ vững vai trò nòng cốt trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và đồng thuận xã hội. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tập trung hướng về cơ sở, thực hiện tốt vai trò là người đại diện, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đoàn viên, hội viên và Nhân dân. Qua đó đã tập hợp, vận động được đông đảo các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nhiều mô hình, điển hình “Dân vận khéo” tạo được sự lan tỏa, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tăng cường đồng thuận, đóng góp thiết thực, hiệu quả cho sự phát triển của tỉnh nhà.

Lực lượng công nhân ngày càng phát triển, với hơn 90.000 người, chiếm 6,2% dân số, chiếm 11,1% lực lượng lao động xã hội, có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của kinh tế tỉnh nhà.

Lực lượng nông dân với hơn 461.871 người, chiếm 31,80% dân số và 56,9% lực lượng lao động xã hội, có truyền thống cần cù, sáng tạo, vượt khó; đã và đang tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm; đồng thời tăng cường liên kết sản xuất để bảo đảm nguồn tiêu thụ hàng nông sản và đáp ứng yêu cầu thị trường, cải thiện và nâng cao thu nhập cho nông dân, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Đội ngũ trí thức phát triển khá nhanh, với hơn 37.695 người, chiếm 2,4% dân số, 4,6% lực lượng lao động xã hội, đi đầu trong các hoạt động khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế tri thức, tạo ra nhiều sản phẩm khoa học có giá trị ứng dụng cao, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh nhà.

Thanh niên với hơn 283.715 người (tính từ 16-30 tuổi), chiếm 19,54% dân số. Trong đó, đông nhất là công nhân, lực lượng vũ trang và học sinh, sinh viên, có tiềm năng to lớn, trình độ học vấn ngày càng cao, đã phát huy vai trò năng động, sáng tạo đi đầu trong khởi nghiệp, dám nghĩ, dám làm, tiếp cận nhanh với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới; là lực lượng kế thừa, nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phụ nữ với hơn 451.304 người (tính từ 18 tuổi trở lên), chiếm 31,07 % dân số và hơn 55,6% lực lượng lao động xã hội, trình độ học vấn, chuyên môn ngày càng nâng cao, tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng trong gia đình và xã hội, nhiều phụ nữ thành công trên các lĩnh vực.

Lực lượng cựu chiến binh với 29.430 người, tiếp tục phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, nêu cao tinh thần đoàn kết, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, giữ gìn an ninh trật tự, giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống, nòng cốt trong tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Doanh nhân với hơn 2.236 người, chiếm 0,17% dân số, đã mạnh dạn đầu tư trong sản xuất, kinh doanh theo hướng hiện đại, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị trên thị trường, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, đóng góp ngân sách và tham gia công tác an sinh xã hội.

Người cao tuổi với hơn 175.570 người, chiếm 11,82% dân số, luôn nêu cao tinh thần “Tuổi cao - gương sáng”, giữ vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội, làm trụ cột về đời sống tinh thần, giáo dục, động viên con cháu hăng hái lao động, học tập, chấp hành pháp luật, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng nếp sống văn minh ở cộng đồng dân cư.

Đồng bào các dân tộc thiểu số có 23 dân tộc cùng sinh sống, người Kinh chiếm đa số, có 1.615.125 người (chiếm tỷ lệ 99,45%). Người Hoa ở Bến Tre chủ yếu là người Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ và Hải Nam, có quá trình định cư, hòa nhập và sống gắn bó lâu đời với các dân tộc trên địa bàn tỉnh. Người Hoa sinh sống tại Bến Tre đến nay đã hơn 10 thế hệ mang họ chủ yếu như: Mạch, Tăng, Vi, Lưu, Văn, Ngô, Ngụy… Đồng bào người Hoa trên địa bàn tỉnh Bến Tre sống đan xen cùng với người Kinh, khoảng 7.490 người (tỷ lệ 0,46%), tập trung ở thị trấn, thị tứ (thành phố Bến Tre với 1.764 người, Châu Thành 1.220 người, Mỏ Cày Nam 1.208 người, Giồng Trôm 1.131 người, Ba Tri 953 người, Mỏ Cày Bắc 500 người, Thạnh Phú 364 người, Bình Đại 169 người, Chợ Lách 181 người); kinh tế ổn định, sống chủ yếu bằng nghề kinh doanh, buôn bán. Người Hoa ở Bến Tre từng bước được Việt hóa một cách tự nguyện cả về phong tục, tập quán, sinh hoạt văn hóa và đời sống kinh tế. Hiện nay, phần lớn hộ gia đình của người Hoa chỉ giữ tục thờ Ngũ phương, Bổn thổ, Thần tài, Khổng Tử, Quan Công, Châu Xương, Ngọc Hoàng thượng đế, Bổn Đầu Công, Thiên Hậu Thánh Mẫu,....Ngoài ra, còn có người Khmer, Chăm, Tày, Nùng, HMông, X'tiêng, Chơro, Bana và một số dân tộc khác, khoảng 1.385 người (tỷ lệ 0,09%). Đời sống của đồng bào dân tộc ngày càng được cải thiện, nét văn hóa truyền thống của từng dân tộc được đề cao.

Đồng bào các tôn giáo có 09 tôn giáo gồm 14 tổ chức, với trên 2.162 chức sắc, 3.263 chức việc và đồng bào có đạo khoảng 232.676 người, chiếm gần 18,67% dân số, luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức, sống “Tốt đời, đẹp đạo”, tích cực tham gia các phong trào do địa phương phát động.

Người Bến Tre định cư ở nước ngoài, có 8.903 người, đang sinh sống, làm việc ở 37 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó lực lượng nhân sĩ trí thức từ kỹ sư đến giáo sư là 783 người, trình độ phổ thông là 6.200 người. Đây là lực lượng đã có nhiều nỗ lực trong xây dựng, quảng bá hình ảnh quê hương, đất nước, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, tích cực đóng góp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hội quần chúng với hơn 424.000 hội viên và nhiều thành phần xã hội khác được hình thành, phát triển đa dạng, có nhiều đóng góp trên các lĩnh vực, nhất là các hoạt động an sinh xã hội. Mặt trận Tổ quốc phối hợp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội luôn tạo điều kiện phát huy, đáp ứng những nguyện vọng hợp pháp, chính đáng, tăng cường đồng thuận xã hội, khắc phục khó khăn, ổn định và phát triển.

1.2. Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị  

- Về xây dựng, chỉnh đốn Đảng: Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt và cụ thể hoá thực hiện nghiêm các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Tỉnh ủy về xây dựng, chỉnh đốn Đảng[85], tạo được những chuyển biến tốt. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên được chú trọng, lan toả phương châm hành động “Dân chủ - Kỷ cương - Đồng thuận - Sáng tạo - Phát triển”; tăng cường giáo dục về đạo đức cách mạng, văn hoá liêm chính, tư tưởng tiến công, đề cao ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, vai trò nêu gương, “tự soi, tự sửa”; nói, viết và làm theo chủ trương, nghị quyết của Đảng, không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo chuyên đề từng năm. Tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng. Tập trung xây dựng, thực hiện hiệu quả các chương trình kiểm tra, giám sát; chú trọng nắm tình hình các tổ chức cơ sở Đảng, kịp thời hướng dẫn tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; chấn chỉnh tình hình sinh hoạt, xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh toàn diện. Qua nửa nhiệm kỳ, toàn tỉnh đã có 448/953 chi bộ ấp, khu phố được công nhận chi bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, đạt 46,90%; kết nạp được 4.078/(4.500-5.000) đảng viên (đạt 90,62% so NQĐH XI), chất lượng nâng lên.

- Về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng triển khai thực hiện kịp thời, đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng và quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; thực hiện tốt nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm; quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện dân chủ, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân trên cơ sở thực hiện đúng đắn, hiệu quả cơ chế Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để Nhân dân làm chủ”; chủ động phối hợp với chính quyền giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc ngay tại cơ sở, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Xây dựng ý thức và lối sống thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong hệ thống chính trị và toàn xã hội; nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân trong thực thi Hiến pháp, pháp luật.

- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức năng động, trách nhiệm, chuyên nghiệp và cung ứng tốt nhất các dịch vụ hành chính công. Sắp xếp thu gọn hợp lý các đơn vị hành chính cấp xã chưa đạt 50% tiêu chuẩn theo quy định về quy mô dân số, diện tích tự nhiên và giảm số lượng thôn, tổ dân phố: Đã sắp xếp giảm được 05 xã, 02 phường; 15 ấp, 03 khu phố. Đang tiếp tục thực hiện sắp xếp thu gọn các đơn vị hành chính cấp huyện, xã và ấp, khu phố theo tiêu chuẩn quy định. Về giảm tối thiểu 10% biên chế so với năm 2015: Năm 2021, khối Đảng, đoàn thể giảm được 183 người hưởng lương ngân sách nhà nước (bao gồm CBCCVC và hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP), đạt tỷ lệ 14%; khối Chính quyền giảm được 2.559 biên chế so với năm 2015, đạt 10,29%, bảo đảm đúng lộ trình (trong đó, giảm được 216 biên chế công chức, 2.343 biên chế sự nghiệp). Giai đoạn từ nay đến năm 2030, đang tiếp tục thực hiện sắp xếp, kiện toàn. Tập trung sắp xếp, đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

- Lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác dân vận chính quyền, nâng cao các chỉ số cải cách hành chính, tập trung xây dựng tổ chức tinh gọn, đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, đủ năng lực thực thi công vụ, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín với Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân và sự nghiệp phát triển đất nước; thực hiện tốt phong cách “Trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân” và “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Lãnh đạo triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế Nhân dân trực tiếp kiểm soát quyền lực Nhà nước, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để người dân tham gia xây dựng và thực hiện tốt chính sách, pháp luật; phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trên cơ sở tiếp tục triển khai, thực hiện có hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền theo Quyết định số 217, 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị và quy định trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Quy định số 124-QĐ/TW, ngày 02/02/2018 của Ban Bí thư về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên; Quy định 213-QĐi/TW, ngày 02/01/2020 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và Nhân dân nơi cư trú; nghiêm túc triển khai, thực hiện Kết luận số 54-KL/TW, ngày 09/5/2023 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 03/10/2017 của Ban Bí thư về tiếp tục phát huy vai trò của Nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ,...

2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực, nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc  

Đảng ta chủ trương tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông dân - trí thức. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của Nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; “Lấy mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc; trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 làm điểm tương đồng để động viên, cổ vũ Nhân dân đồng lòng, chung sức thực hiện vì tương lai của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân” [9]. Đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết dân tộc.

2.1. Đại đoàn kết dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội

Đại hội XIII xác định: “Giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội. Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước” [10].

2.2. Chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp xã hội nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc 

- Xây dựng giai cấp công nhân Bến Tre hiện đại, lớn mạnh. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động cho công nhân lao động; bảo đảm đời sống ổn định, điều kiện học hành cho con em công nhân, nhất là trong các khu công nghiệp. Phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân trong khối liên minh công - nông dân - trí thức. Đổi mới mạnh mẽ mô hình tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của công đoàn phù hợp với cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốc tế. Bảo đảm tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp ra đời và hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, tuân thủ pháp luật; phòng ngừa, kiên quyết xử lý việc lợi dụng tổ chức của người lao động để xâm phạm quyền, lợi ích của người lao động và doanh nghiệp, gây mất an ninh, trật tự.

- Xây dựng giai cấp nông dân Bến Tre phát triển toàn diện, văn minh, tự chủ, tự lực, tự cường và có ý chí, khát vọng vươn lên; có trình độ và khả năng ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; có trách nhiệm xã hội, tôn trọng pháp luật, bảo vệ môi trường; là chủ thể, trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và đô thị hoá. Phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo, vượt khó của nông dân trong phát triển kinh tế nông thôn, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng nông sản, cải thiện và nâng cao đời sống.

- Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo, tích cực nghiên cứu, đóng góp vào quá trình phát triển của tỉnh. Có cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng trí thức người Bến Tre cả trong và ngoài nước. Phát huy vai trò tư vấn, phản biện, tham mưu chủ trương, chính sách của đội ngũ trí thức.

- Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng; có trí tuệ, năng lực quản lý, năng động, sáng tạo, có đạo đức và văn hoá kinh doanh, tinh thần dân tộc, trách nhiệm xã hội, đóng góp tích cực vào xây dựng và phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Tạo hành lang pháp lý và môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, an toàn để doanh nhân phát triển. Củng cố, sắp xếp nâng cao chất lượng hoạt động các hội, hiệp hội, câu lạc bộ liên quan đến hoạt động doanh nghiệp của tỉnh và các huyện, thành phố (Hiệp hội doanh nghiệp, Hội doanh nhân trẻ, Hiệp hội Dừa, Hiệp hội bưởi da xanh,…). Tiếp tục củng cố hoạt động, mở rộng quy mô các quỹ đầu tư hiện có (Quỹ đầu tư khởi nghiệp, Quỹ hỗ trợ khoa học công nghệ, Quỹ Khuyến công, Quỹ hỗ trợ phát triển HTX,…); rà soát, sáp nhập một số quỹ hỗ trợ có chức năng tương đồng, để tập trung nguồn lực hỗ trợ cho doanh nghiệp nâng cao năng lực hoạt động.

2.3. Chính sách với đồng bào, các giới và lứa tuổi nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc  

- Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, ý chí, khát vọng cống hiến, nêu cao trách nhiệm đối với đất nước, xã hội. Xây dựng môi trường, điều kiện học tập, rèn luyện, lao động, giải trí để thế hệ trẻ phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hoà cả về trí tuệ, thể chất và thẩm mỹ. Xây dựng các phong trào thanh niên thi đua học tập, lao động, sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp, làm chủ kiến thức khoa học - công nghệ hiện đại, xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Chăm lo xây dựng người phụ nữ Bến Tre thời đại mới đồng thời phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của phụ nữ; tích cực xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Thực hiện tốt chính sách, pháp luật liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ; đấu tranh ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ, trẻ em. Tăng cường các chương trình phát triển, hỗ trợ cập nhật kiến thức, kỹ năng, cơ hội tiếp cận, thụ hưởng các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên.

- Tăng cường vai trò của cựu chiến binh trong giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tích cực giúp nhau làm kinh tế, cải thiện, nâng cao đời sống, làm giàu hợp pháp, góp phần xây dựng, phát triển đất nước.

- Phát huy uy tín, kinh nghiệm của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình. Kính trọng, bảo vệ, chăm sóc, có cơ chế, chính sách huy động các nguồn lực để chăm lo và phát huy vai trò của người cao tuổi; khuyến khích người cao tuổi tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội. Xây dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi; có chính sách bảo trợ, giúp đỡ người cao tuổi gặp khó khăn, cô đơn không nơi nương tựa.

- Bảo đảm các dân tộc trong tỉnh bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, phát huy nội lực, vươn lên cùng phát triển. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên thoát nghèo và giảm nghèo bền vững. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân trí, giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; vận động xoá bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu, xây dựng nếp sống văn hoá mới; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, người có uy tín trong vùng dân tộc thiểu số.

- Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ sống “Tốt đời, đẹp đạo”, đồng hành cùng dân tộc, tích cực tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chính quyền các cấp phát động. Bảo đảm để các tổ chức tôn giáo hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận; quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ giải quyết các nhu cầu chính đáng của quần chúng tín đồ trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh. Tôn trọng, khuyến khích phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Tập hợp, vận động người Bến Tre đang sinh sống, làm việc trong và ngoài nước hướng về quê hương; kịp thời thời tôn vinh những người đóng góp tích cực cho sự phát triển của quê hương qua danh hiệu “Công dân Đồng Khởi”.

3. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc

3.1. Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, phát huy sức mạnh toàn dân tộc   

Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và chủ trương: “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc”. Bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp phải được nâng cao; không dao động trong bất cứ tình huống nào. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

Nâng cao năng lực hoạch định chủ trương của cấp uỷ, triển khai thực hiện hiệu quả thực chất chủ trương và bảo vệ chủ trương của cấp uỷ phù hợp với tình hình thực tiễn và đặc điểm của địa phương, tạo bước đột phá để phát triển. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng trong tình hình mới, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khoá XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng văn hoá liêm chính; coi đó là công việc thường xuyên của cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội gắn với thực hiện các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, khoá XIII về công tác xây dựng Đảng, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm. Thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân về phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân; tập hợp, vận động Nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của Nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của Nhân dân. Tăng cường thực hiện tổ chức trao đổi, đối thoại với Nhân dân theo Quy định số 11- QĐi/TW, ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị khoá XII về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân.  

3.2. Tiếp tục kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc   

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, phát huy mạnh mẽ vai trò, hiệu lực của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, có hiệu lực và hiệu quả. Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để Nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lý đất nước theo pháp luật, coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý toàn diện kinh tế - xã hội của chính quyền các cấp. Tiếp tục thực hiện sáp nhập địa giới hành chính; sắp xếp bộ máy chính quyền, đơn vị hành chính bảo đảm hợp lý, tinh gọn và hoạt động hiệu quả, gắn với xây dựng chính quyền điện tử, triển khai xây dựng mô hình chính quyền đô thị. Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; đưa 100% dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 4; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan chính quyền các cấp, hướng tới số hoá hoạt động hệ thống chính trị. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tận tụy - chuyên nghiệp - hiệu quả, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới. Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm. Chú trọng công tác kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập và thanh tra trách nhiệm việc thực hiện quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với những lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng như quản lý, sử dụng đất đai, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý tài chính, giải phóng mặt bằng,…

3.3. Tiếp tục củng cố, tăng cường tổ chức; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội  

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đóng vai trò nòng cốt trong tập hợp, vận động Nhân dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng gần dân, sát dân, hiểu dân, tất cả vì Nhân dân. Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, tạo mọi điều kiện để Nhân dân tích cực đóng góp ý kiến vào công tác xây dựng Đảng, chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động nắm tình hình tư tưởng, dư luận và tích cực tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc, chính đáng của Nhân dân. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong đoàn viên, hội viên và Nhân dân, trọng tâm là phong trào thi đua “Đồng Khởi mới”, xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh. Phát huy tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; quan tâm nâng cao chất lượng đoàn viên, hội viên các cấp. Thường xuyên tuyên truyền, tạo sự đồng thuận của Nhân dân trong thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc.

4. Giải pháp tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh  

4.1. Đối với cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội  

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, người đứng đầu và của cả hệ thống chính trị trong củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay, nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của các tầng lớp nhân dân. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về tăng cường đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Tiếp tục lãnh đạo thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, khoá XII, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII gắn với Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị khoá XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khoá XII đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 01-CT/TU, ngày 17/10/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát động và thực hiện phong trào thi đua “Đồng Khởi mới” giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Nghị quyết số 03-NQ/TU, ngày 18/01/2021 của Tỉnh uỷ về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ. Đoàn kết trước hết trong Đảng, hệ thống chính trị và ra ngoài xã hội, các tầng lớp nhân dân. Đoàn kết trên cơ sở phát huy dân chủ thật sự, tránh đoàn kết xuôi chiều.

Lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa và thực hiện tốt các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết dân tộc đã được nêu ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết số 43-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của Nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của địa phương; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; khắc phục những hạn chế, bảo đảm tác dụng, hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; tạo sự đồng thuận xã hội.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xem đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu; mỗi cán bộ, đảng viên phải là một chiến sỹ, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thông nghiệp vụ; bình tĩnh, sáng suốt, kịp thời tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng tư tưởng tiến công, tự lực tự cường, đổi mới sáng tạo trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Qua đó tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”.

Tiếp tục nâng cao năng lực cụ thể hoá thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng theo hướng đồng bộ, hiệu quả thực chất, nhất là các nghị quyết về xây dựng Đảng. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc tự phê bình, phê bình, chất vấn trong các kỳ họp của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp. Chú trọng thực hiện có hiệu quả cơ chế phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng theo phương châm “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, nhất là nội dung “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân. Nâng cao chất lượng các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp tục tăng cường giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri; phát huy vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trong tham gia thảo luận, chất vấn các vấn đề cử tri, đại biểu quan tâm và đóng góp xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân tỉnh, tiếp tục cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; phấn đấu nâng cao các chỉ số PCI, PAPI, SIPAS, PAR-INDEX; đẩy nhanh việc xây dựng chính quyền điện tử. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp kiểm tra, giám sát việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đưa nội dung lãnh đạo các công tác này thành một trong những tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng các cấp. Kịp thời phát hiện, uốn nắn những biểu hiện nhận thức chưa đúng, lệch lạc; kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm; khen thưởng, biểu dương những mô hình hay, cách làm sáng tạo, các điển hình tiên tiến, tấm gương tiêu biểu.

Lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền, vận động; đổi mới và đa dạng hoá hình thức tuyên truyền, giáo dục về truyền thống đại đoàn kết dân tộc cho cán bộ, đảng viên, hội viên và Nhân dân. Phát huy hiệu quả các phương tiện truyền thông đại chúng, các loại hình văn hoá, nghệ thuật; phối hợp đồng bộ giữa thông tin đối nội và thông tin đối ngoại; kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục truyền thống đại đoàn kết dân tộc với tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu phát triển, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

4.2. Đối với cán bộ, đảng viên

Thực hiện hiệu quả thực chất Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quy định số 272-QĐ/TU, ngày 22/10/2021 của Tỉnh uỷ về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, công chức, viên chức là đảng viên và tiêu chí đánh giá thực hiện trách nhiệm nêu gương.

Cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về đoàn kết và xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; thực hiện tốt phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”; cán bộ, đảng viên phải thật sự làm gương để quần chúng noi theo “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng; kiên quyết đấu tranh chống bè phái, cục bộ, bảo vệ cái đúng, người tốt, việc tốt. Luôn đặt lợi ích của Đảng, quốc gia dân tộc, Nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng; gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Tỉnh uỷ.

Xây dựng tư tưởng tiến công, không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tích cực, chủ động rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, kỹ năng ứng phó với mọi tình huống khó khăn, thực hiện có hiệu quả và lan toả phương châm “Dân chủ - Kỷ cương - Đồng thuận - Sáng tạo - Phát triển” bằng những hành động cụ thể góp phần xây dựng Đảng, xây dựng khối đoàn kết nội bộ. Chủ động nghiên cứu, học tập, quán triệt và vận dụng phù hợp, sáng tạo các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các đợt sinh hoạt chính trị và cập nhật kiến thức, tạo sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, về ý chí và hành động. Tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch.

Đề cao ý thức tu dưỡng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, thực hiện tốt văn hoá liêm chính, “nói đi đôi với làm”. Mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng lối sống trong sạch, lành mạnh, tương thân, tương ái, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau. Thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; công tâm, khách quan, giản dị, khiêm tốn; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Nêu cao ý thức và trách nhiệm phục vụ Nhân dân, giữ mối liên hệ và gắn bó với Nhân dân, là cầu nối giữa Nhân dân với Đảng; biết lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, chủ động đối thoại với Nhân dân và cán bộ dưới quyền; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện quan liêu, cửa quyền, vô cảm, thờ ơ, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của Nhân dân. Tận tụy, quyết liệt với công việc; tích cực học tập, nghiên cứu, tiếp thu và vận dụng có hiệu quả tri thức khoa học, công nghệ thông tin, các sáng kiến trong lao động, sản xuất, công tác. Đổi mới cách nghĩ, cách làm, trên tinh thần tiến công, năng động, sáng tạo, thận trọng, chặt chẽ, linh hoạt, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung.

Hết lòng chăm lo xây dựng và tăng cường đoàn kết nội bộ; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu thường xuyên quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị và cấp ủy các cấp; công tâm với cán bộ dưới quyền; động viên, chia sẻ khó khăn trong cuộc sống và trong công tác, hợp tác với đồng chí, đồng nghiệp để không ngừng tiến bộ. Chân thành hợp tác, hướng dẫn, giúp đỡ, thương yêu đồng chí, đồng nghiệp trong công tác và trong cuộc sống; bảo vệ uy tín, danh dự của đồng chí, đồng nghiệp; không tranh giành công lao đóng góp của tập thể; không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, khuyết điểm cho người khác; không lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi. Chấp hành tốt và tích cực vận động gia đình, người thân đồng thuận trong thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các dự án lớn, công trình trọng điểm của tỉnh; không vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và những quy định của địa phương nơi cư trú, của cơ quan, đơn vị công tác.

 

Chú thích

[1] Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.17

[2], [3], [4], [5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t. I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.34, 27, 118, 96-97

[6], [7], [8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t. I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.116, 46, 43

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.138

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.50-51,

 


[1] So với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, đến nay có 15/20 chỉ tiêu đạt trên 50% so Nghị quyết; 03/20 chỉ tiêu đạt trên trên 40% - <50%; 02/20 đạt dưới 40%, trong đó 3 chỉ tiêu đạt thấp:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP), ước nửa nhiệm kỳ thực hiện đạt 5,97%, thấp hơn 2,53 điểm % so Nghị quyết (8,5-9,5 %). Nhận định phấn đấu cuối nhiệm kỳ đạt cận dưới.

- GRDP bình quân đầu người: Mục tiêu 87 triệu đồng, ước nửa nhiệm kỳ đạt 53,9 triệu đồng (còn hơn 33 triệu trong 2 năm rưởi còn lại, mỗi năm tăng hơn 15 triệu kể từ năm 2023). Nhận định cuối nhiệm kỳ không đạt.

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn: Mục tiêu 35-40 ngàn tỷ đồng, ước thực hiện nửa nhiệm kỳ 14.158 tỷ đồng (còn hơn 25 ngàn tỷ đồng, mỗi năm phải thu hơn 8 ngàn tỷ đồng từ năm 2023). Nhận định cuối nhiệm kỳ không đạt.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.482.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.145.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.27,186.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.27,186.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.589.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.119.

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.27,186.

[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.27,186.

[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.178-179.

[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.49.

[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.624.

[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.244.

[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.576.

[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.379-380.

[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.244.

[17] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.453.

[18] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.244.

[19] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.244.

[20] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.362.

[21] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.280-281.

[22] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.484.

[23] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.382-383.

[24] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.611.

[25] Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh -Tinh hoa và khí phách của dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2012, tr.44.

[26] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.558

[27] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.396.

[28] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.256.

[29] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.368.

[30] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.16, 130-131.

[31] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.16, 130-131.

[32] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.276.

[33] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.297.

[34] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.547.

[35] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.278-279.

[36] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.50.

[37] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.50.

[38] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.50.

[39] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.611.

[40] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.438.

[41] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.280-281.

[42] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.557.

[43] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.228.

[44] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.495.

[45] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.289.

[46] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.49.

[47] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.608.

[48] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.309, 313.

[49] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.309, 313

[50] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.314.

[51] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.292.

[52] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.301.

[53] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.622.

[54] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.17.

[55] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.473.

[56] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.13, tr.453.

[57] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.452.

[58] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.420.

[59] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.249.

[60] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.290.

[61] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.611-612.

[62] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.603.

[63] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.35.

[64] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.668.

[65] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.457.

[66] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.260.

[67] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.612.

[68] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.21.

[69] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.478.

[70] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.127.

[71] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.374.

[72] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.298.

[73] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.477-480.

[74] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.248.

[75] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.90, 89.

[76] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.90, 89.

[77] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.90.

[78] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.340.

[79] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.285.

[80] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.55.

[81] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.233-234.

[82] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.280-281.

[83] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr.65.

[84] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.89.

[85] Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, khoá XII, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong tình hình mới; Nghị quyết số 03-NQ/TU, ngày 18/01/2021 của Tỉnh uỷ về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ.

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)

THƯ MỜI - THÔNG BÁO THƯ MỜI - THÔNG BÁO

LỊCH CÔNG TÁC LỊCH CÔNG TÁC

VĂN BẢN MỚI VĂN BẢN MỚI

 Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị khóa XIII về tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
 Hướng dẫn tuyên truyền kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (01/5/1904 - 01/5/2024)
 Kế hoạch triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng sâu rộng về nội dung tác phẩm Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
 Kế hoạch triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung bài viết “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

LIÊN KẾT LIÊN KẾT